Nguồn gốc cây chè (trà) và tên gọi

Nguồn gốc cây chè

 

Chè  là loài cây có lịch sử thuộc vào hàng lâu đời nhất trên thế giới. Cây chè có tên khoa học là Camelia Sineusis, thuộc họ Theacae, khí hàn, vị khổ cam, không độc. Đây một loại cây xanh lá quanh năm, có hoa màu trắng. Cây chè là loại cây dài hạn, phải trồng từ 5 năm trở lên mới thu hoạch được và thu hoạch trong vòng 25 năm, có nhiều cây chè cổ thụ có tuổi đời lên tới vài trăm năm như cây Trà Tước ở chùa Hương Sơn Thái Nguyên nước ta có tuổi đời 300 năm.

Dựa trên đặc tính và sự sinh trưởng của cây chè, những nhà thực vật học đưa ra các điều kiện để cây chè sinh trưởng và phát triển tốt như sau:

1) Quanh năm không có sương muối.

2) Có mưa đều quanh năm với lượng mưa trung bình khoảng 3000 mm/ năm.

3) Nằm ở độ cao 500-1000 mm so với mực nước biển, môi trường mát mẻ, không nắng quá hoặc ẩm quá.

Những vùng đất thỏa mãn các điều kiện trên là: tỉnh Vân Nam - Trung Quốc, Bắc Việt Nam, Bắc Miến Điện, Thái Lan và Lào, vùng núi phía đông bang Assam của Ấn Độ

Như vậy có thể thấy cây chè chỉ tập trung sinh sống và phát triển được ở châu Á. Cây chè nguyên thủy được cho rằng có từ 4-5 nghìn năm trước đây.

Các nhà khảo cổ học ở nước ta đã tìm thấy những dấu tích cổ đại của hoá thạch cây chè ở Phú Thọ. Ở Suối Giàng có cả một rừng chè hoang mấy vạn cây, có nhiều cây chè cổ thụ rất to lớn.

Truyền thuyết về cây chè

 

Truyền thuyết thứ nhất: Một lần vua Thần Nông ở Trung Quốc tuần du phương Nam, trên đường đi vua thấy mệt mỏi, khát nước và dừng lại để đun nước nấu uống. Tình cờ có lá chè rơi vào nồi nước của vua, vua uống vào thấy nước ngon ngọt, thanh dịu và xua tan đi mệt mỏi. Từ đó chè được coi là thứ đồ uống phổ biến

Truyền thuyết thứ hai: Một ngày nọ, Đức Phật Gautama khi đang ngồi suy nghĩ trầm ngân ở vườn thì có một chiếc lá chè bỗng rơi vào cốc của Ngài và Ngài đã uống thử từ đó phát hiện ra loại đồ uống là chè.

Truyền thuyết thứ ba: Vào thế kỉ VI, thiền sư Ấn Độ Bồ Đề Đạt Ma một lần ngủ quên trong buổi toạ thiền. Đến khi tỉnh giấc, Ngài rất hối hận và bực tức, liền cắt hai mi mắt của mình rồi vứt xuống đất. Sau này chỗ Ngài vứt mi mắt mọc lên hai khóm chè, thể hiện sự đốn ngộ về thể xác và tinh thần. Từ đó các thiền sư luôn coi trọn cây chè và thường trồng và chăm sóc chè trong chùa .

Người Nhật cũng có truyền thuyết kể rằng vào thời Chiến Quốc có một danh  y tinh thông 84.000 cây thuốc. Ông dạy cho con được 62.000 cây thì chết. 22.000 cây kia không biết tìm ở đâu cho ra, nào ngờ trên mộ ông mọc lên một cái cây, chứa đủ tinh hoa của 22.000 cây còn lại. Đó là cây chè.

Nguồn gốc tên gọi cây chè / trà

 

Về tên gọi, trong tiếng Việt có hai từ “chè” và “trà”. “Chè” là từ thuần Việt, là danh từ chung chỉ cả cây trồng và các loại sản phẩm từ chè ( gồm chè tươi và chè khô ). Ngoài ra, “chè” còn là từ để chỉ đồ uống từ các loại cây ( chè nhân trần, chè ô long) và để chỉ cả các món ăn có chứa nước (chè đỗ đen, chè thập cẩm).

Còn từ “trà” là từ mượn, từ Hán Việt để nói đến các sản phẩm đồ uống đã chế biến rồi như trà sen, uống trà.

Nếu coi nguồn gốc cây chè cổ đại là từ Đông Nam Á, thì từ “chè” mà chúng ta sử dụng là từ tiếng Đông Nam Á cổ, tồn tại lâu đời, niên đại mấy nghìn năm nên sử dụng rộng rãi và phổ thông để chỉ tất cả các danh từ liên quan đến chè. Từ “chè” gốc từ Đông Nam Á sau đó đi vào Trung Quốc và tiếng Hán gọi là trà”, rồi khi tiếng Hán thâm nhập vào Việt Nam thì từ “trà” lại trở thành từ được sử dụng nhiều. Vì thế ngày nay ở Việt Nam 2 từ “chè” và “trà” được sử dụng phổ biến. Tuy nhiên chính xác thì từ “chè” nghĩa rộng hơn từ “trà”.

 

VIỆT CỔ TRÀ - TRÀ THỦ CÔNG HƯƠNG VỊ TRUYỀN THỐNG

Địa chỉ: Sô 7 - Ngõ 143 - Trung Kính - Yên Hoà - Cầu Giấy - Hà Nội

Hotline: 0976 367 235 | Email: vietcotra@gmail.com 

Website: http://vietcotra.com | http://vietcotra.vn